Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản
Tỉnh ta có nhiều sản phẩm đã, đang phát triển sản xuất hàng hóa như: Nhãn, thanh long, chuối, bí xanh, bí đỏ; đặc biệt, nhiều sản phẩm lợi thế vùng miền như: Mía tím, chè, ngô nếp, quả ôn đới, cây gia vị và cây dược liệu. Nhiều sản phẩm nêu trên đã, đang được xuất khẩu (nhãn, chuối, mía, bí, rau, dưa chuột, gừng...). Các ngành chức năng tham mưu cho tỉnh ban hành đề án, nghị quyết phát triển cấp mã số vùng trồng (MSVT) cho sản phẩm trồng trọt chủ lực, lợi thế, phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước, đưa Hòa Bình thành một trong những tỉnh đầu tiên thực hiện đồng bộ hoạt động này.

 


Sản phẩm chuối của Hợp tác xã sản xuất chế biến nông thuỷ sản Phú Cường - Sông Đà được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
 
Cuối tháng 3 vừa qua, HTX sản xuất chế biến nông thủy sản Phú Cường - Sông Đà đã tổ chức đóng gói, làm thủ tục xuất 20 tấn chuối được cấp MSVT xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Tất cả các yêu cầu trồng trọt, cũng như quy trình sơ chế, đóng gói sản phẩm chuối tươi của HTX được thực hiện theo tiêu chuẩn sản xuất an toàn. Ông Trần Văn Tú, Giám đốc HTX cho biết: Năm ngoái, HTX đã xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, tuy nhiên, những quy chuẩn về đóng gói chưa được thực hiện thì đến năm nay đã hoàn thiện, sản phẩm chuối đã xuất chính ngạch sang Trung Quốc. Diện tích chuối của HTX khoảng 25 ha, sản lượng khoảng 750 tấn/năm, tất cả sẽ được xuất khẩu. Bên cạnh đó, HTX đưa vào thử nghiệm trồng hơn 2 ha khoai lang tím, cũng được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP để xuất khẩu. 
 
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Yến, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật cho biết: MSVT đã được quy định rõ tại Điều 64, Luật Trồng trọt (có hiệu lực từ ngày 1/1/2020), theo đó: "MSVT là mã số định danh cho một vùng trồng trọt nhằm theo dõi và kiểm soát tình hình sản xuất; kiểm soát chất lượng sản phẩm; truy xuất nguồn gốc sản phẩm cây trồng". Để được cấp mã số thì vùng trồng phải đáp ứng nhiều yếu tố như: Được trồng tập trung, thuần loài, diện tích phù hợp và được định vị, áp dụng quy trình đồng nhất về canh tác, phòng trừ dịch bệnh, nhật ký đồng ruộng đầy đủ, đặc biệt là nhật ký về xử lý thuốc bảo vệ thực vật, đã được cấp chứng nhận hoặc chứng minh được việc áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến (GAP). Đi liền với cấp MSVT là việc cấp mã số cơ sở đóng gói, đây là yêu cầu căn bản để thực hiện quy định kiểm dịch thực vật xuất khẩu. Cũng như MSVT, một cơ sở đóng gói chỉ được cấp mã số khi đáp ứng được những điều kiện cơ bản như: Diện tích nhà xưởng phù hợp với công suất; có đầy đủ trang thiết bị; nguồn nước sơ chế đảm bảo an toàn; hàng luân chuyển theo nguyên tắc 1 chiều; khu vực đóng gói không có sự có mặt của côn trùng; người đóng gói phải đảm bảo đủ sức khỏe, được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động...  
 
MSVT và mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) giúp chứng minh cho sự quản lý chặt chẽ từ khâu tổ chức sản xuất, chứng nhận an toàn thực phẩm, đến khâu thu hoạch, sơ chế và đóng gói sản phẩm, phù hợp với xu thế phát triển trong tương lai, khi quá trình hội nhập, cạnh tranh ngày càng sâu rộng. 
 
 Tính đến tháng 10/2020, riêng đối với thị trường Trung Quốc, cả nước đã có 1.742 MSVT với diện tích 185.196 ha, 1.840 MSCSĐG cho 9 loại quả tươi xuất khẩu sang thị trường này. Tại khu vực phía Bắc, một số tỉnh đã thực hiện khá thành công việc cấp, quản lý mã số trên các vùng trồng nhãn, vải, chuối, dưa hấu, thanh long xuất khẩu..., như tỉnh Hải Dương có 95 MSVT, 120 MSCSĐG; tỉnh Bắc Giang có 215 MSVT, 289 MSCSĐG; tỉnh Sơn La có 130 MSVT, 37 MSCSĐG... Đối với Hòa Bình, hoạt động hỗ trợ cấp MSVT, MSCSĐG được thực hiện thí điểm từ năm 2019. Đến hết 2020, tỉnh đã được Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) cấp 9 MSVT với diện tích 76,3 ha và 7 MSCSĐG. Năm 2020, đã có 120 tấn nhãn Sơn Thủy của huyện Kim Bôi, 180 tấn chuối của TP Hòa Bình được xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc. 
 
Nhìn chung, việc cấp MSVT ở tỉnh còn rất khiêm tốn, kém xa tiềm năng phát triển và yêu cầu thực tiễn đặt ra. Bên cạnh đó, việc sơ chế, đóng gói sản phẩm đúng quy định mới chỉ thực hiện được ở một số ít doanh nghiệp cho một số sản phẩm rau, chuối, chè. Đại đa số hiện nay, việc sơ chế đóng gói sản phẩm trồng trọt của các hộ dân, HTX, doanh nghiệp diễn ra ngay trên đồng ruộng, hay tại những cơ sở nhỏ, không được trang bị dụng cụ, thiết bị phù hợp, chính vì vậy, chất lượng, mẫu mã sản phẩm không đồng đều, chưa đi đúng tâm lý khách hàng.
 
Để khắc phục những hạn chế trên, các ngành chức năng đã tham mưu cho tỉnh ban hành các chủ trương, chính sách "Phát triển thị trường xuất khẩu nông sản chủ lực tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030”. Ngày 4/1/2021, BCH Đảng bộ, BTV Tỉnh ủy khóa XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đưa nội dung hỗ trợ cấp MSVT cho các sản phẩm trồng trọt chủ lực, lợi thế của tỉnh vào chương trình công tác trọng tâm năm 2021 (Chương trình số 03-CTr/TU). Trên cơ sở đó, nghiên cứu ban hành những cơ chế, chính sách cụ thể hỗ trợ cấp MSVT cho sản phẩm trồng trọt chủ lực, lợi thế phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước của tỉnh giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030.
Ngày 22/3, Hợp tác xã sản xuất chế biến nông thuỷ sản Phú Cường - Sông Đà (xã Thịnh Minh - TP Hoà Bình) đã xuất 20 tấn chuối được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Đây là đợt hàng xuất khẩu đầu tiên của HTX trong năm 2021 sau dịch Covid-19.  

Nhân viên Hợp tác xã sản xuất chế biến nông thuỷ sản Phú Cường - Sông Đà (xã Thịnh Minh - TP Hoà Bình) đóng gói bao bì chuối xuất khẩu.
 
HTX này hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, riêng diện tích chuối có khoảng 25 ha, sản lượng khoảng 750 tấn/năm. Dự kiến năm 2021, HTX sẽ xuất sang thị trường Trung Quốc khoảng 800 tấn chuối. Quá trình sản xuất, sơ chế, đóng gói thực hiện theo tiêu chuẩn VietGAP, bảo đảm ATVSTP. Mã số vùng trồng đã được quy định rõ tại điều 64, Luật Trồng trọt (Luật số 31/2018/QH14), có hiệu lực từ 1/1/2020. Để được cấp mã số thì vùng trồng phải đáp ứng nhiều yếu tố như: Được trồng tập trung, thuần loài, diện tích phù hợp và được định vị, được áp dụng quy trình đồng nhất về canh tác, phòng trừ dịch bệnh, nhật ký đồng ruộng đầy đủ, đặc biệt là nhật ký về xử lý thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), đã được cấp chứng nhận hoặc chứng minh được việc áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến (GAP). Đi liền với cấp mã số vùng trồng là việc cấp mã số cơ sở đóng gói, đây là yêu cầu căn bản để thực hiện quy định kiểm dịch thực vật xuất khẩu.
 
Tại khu vực phía Bắc, một số tỉnh đã thực hiện khá thành công việc cấp và quản lý mã số trên các vùng trồng nhãn, vải, chuối, dưa hấu, thanh long xuất khẩu như tỉnh Hải Dương, Bắc Giang... Tại tỉnh Hòa Bình, hoạt động hỗ trợ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được thực hiện thí điểm từ năm 2019. Đến nay, tỉnh đã được Cục BVTV (Bộ NN&PTNT) cấp 9 mã số vùng trồng với diện tích 76,3 ha và 7 mã số cơ sở đóng gói. Từ những vùng trồng được cấp mã số, trong năm 2020, đã có 120 tấn nhãn Sơn Thủy của huyện Kim Bôi và 180 tấn chuối của TP Hòa Bình được xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc.

 Nguồn: http://www.baohoabinh.com.vn/

Với lợi thế mặt nước hồ thủy điện Hòa Bình, thời gian qua, tỉnh chú trọng phát triển nuôi cá lồng vùng hồ. Đến nay, đã có 4,7 nghìn lồng, sản lượng trên 4 nghìn tấn, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho trên 2.000 lao động. Phát triển nuôi trồng thủy sản lòng hồ góp phần đưa sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt 11,15 nghìn tấn. Các doanh nghiệp, HTX nuôi cá lồng đầu tư nuôi theo công nghệ tiên tiến, thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi tạo giá trị gia tăng, hướng tới có nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP.
Công ty TNHH thủy sản Hải Đăng đảm bảo nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất các loại ruốc cá. 
 
Để hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX, hộ dân phát triển nuôi cá lồng vùng hồ thủy điện Hòa Bình, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 12/NQ-TU, ngày 13/6/2014 về phát triển nuôi cá lồng bè vùng hồ thủy điện Hòa Bình giai đoạn 2014 - 2020. UBND tỉnh có nhiều chính sách thu hút, khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư nuôi trồng thủy sản. Hiện, toàn tỉnh có 20 cơ sở nuôi cá lồng, quy mô trên 20 lồng/cơ sở, 4 cơ sở nuôi trên 100 lồng, sản phẩm tiêu thụ chủ yếu tại thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Tiêu biểu như Tập đoàn Marvin triển khai dự án nuôi cá diêu hồng và rô phi ứng dụng công nghệ cao 24 lồng tròn, thể tích 2.000 m3/lồng/100 ha mặt nước, sản lượng dự kiến khoảng 5 nghìn tấn/năm. Công ty Việt Đức với 100 lồng nuôi cá tầm; Công ty TNHH Cường Thịnh nuôi 200 lồng; HTX Hiền Lương, xã Hiền Lương (Đà Bắc) nuôi 120 lồng...
 
Nhằm đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm, các doanh nghiệp, HTX ký kết với hộ dân thực hiện nuôi cá lồng theo tiêu chuẩn VietGAP. Điển hình như Công ty cá sạch Sông Đà, Công ty    Việt Đức, Công ty Minh Phú, Công ty TNHH thủy sản Hải Đăng, Công ty TNHH Cường Thịnh cung cấp con giống, thức ăn, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho các hộ dân. Với cách làm đó, người dân và doanh nghiệp yên tâm sản xuất, tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP).
Nguồn nguyên liệu dồi dào, chất lượng đảm bảo là lợi thế để cá lồng hồ Hòa Bình tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến nay, có nhiều sản phẩm cá và chế biến từ cá đạt tiêu chuẩn OCOP cấp tỉnh như: Cá lăng đen sông Đà file, cá rô phi sông Đà file của Công ty TNHH Cường Thịnh; ruốc cá trắm đen, ruốc cá lăng đen, ruốc cá lăng vàng sông Đà của Công ty TNHH thủy sản Hải Đăng đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao cấp tỉnh.
 
Anh Nguyễn Văn Toản, Giám đốc Công ty TNHH thủy sản Hải Đăng cho biết: Thời gian qua, công ty đã đầu tư, liên kết nuôi cá sông Đà theo chuỗi giá trị, tiêu chuẩn VietGAP, đảm bảo ATVSTP, đáp ứng nhu cầu thị trường. Công ty duy trì khoảng 180 lồng, nuôi các loại cá: Lăng đen, lăng vàng, trắm đen, trắm, chép, tầm…, sản lượng khoảng 500 tấn/năm. Trong đó, cá lăng đen, lăng vàng, trắm đen chiếm khoảng 70% tổng sản lượng cá của công ty. Với mong muốn quảng bá sản phẩm cá sông Đà tới người tiêu dùng trong nước và quốc tế, công ty đã nghiên cứu để chế biến 3 loại cá đặc sản hồ Hòa Bình, gồm: Lăng đen, lăng vàng, trắm đen thành sản phẩm ruốc cá để tiện sử dụng mà vẫn giữ nguyên được hương vị, giá trị dinh dưỡng. Tháng 4/2019, công ty bắt đầu làm các loại ruốc cá. Chúng tôi ký hợp đồng với Công ty TNHH sản xuất và thương mại thủy sản Quảng Ninh, huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) để sơ chế, đóng gói (công ty áp dụng hệ thống quản lý ATVSTP HACCP, ISO 22000). Ruốc cá được đóng bằng lọ thủy tinh, khối lượng 40g, 100g, gắn tem truy xuất nguồn gốc trên từng lọ. Các sản phẩm ruốc cá đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao mở ra cơ hội lớn đưa sản phẩm của công ty vươn tới thị trường xuất khẩu. 
 
Thời gian tới, để phát triển nuôi cá lồng đạt hiệu quả cao và bền vững, hướng tới sản phẩm OCOP, các hộ cần thành lập HTX nghề cá, nhằm liên kết với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, hướng sản phẩm ra thị trường khu vực, thế giới. Đầu tư mở rộng quy mô nuôi; lựa chọn, phát triển đối tượng nuôi chủ lực theo đề án tái cơ cấu lĩnh vực thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững.
Tỉnh Hòa Bình có tiềm năng rất lớn về phát triển nông nghiệp với các đặc sản có tiếng cũng như các sản phẩm công nghiệp nông thôn. Theo số liệu của Sở NN&PTNT, đến năm 2020, diện tích cây ăn quả có múi của tỉnh đạt trên 11,5 nghìn ha, trong đó, diện tích kinh doanh 8 nghìn ha, sản lượng trên 15 vạn tấn. Diện tích trồng rau các loại trên 11 nghìn ha/năm, năng suất 13-15 tấn/ha, sản lượng 14-16 vạn tấn/năm. Diện tích mía trong giai đoạn ổn định trên 8 nghìn ha. Bên cạnh đó, chăn nuôi phát triển mạnh với 5 loài vật nuôi chủ lực, được thị trường tin dùng. Từ thực tế này đặt ra yêu cầu lớn trong việc xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm để nông sản của tỉnh đến gần hơn với người tiêu dùng cả nước và hướng tới xuất khẩu.

Hàng năm, tỉnh đều tổ chức các hội chợ nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản, OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn. Ảnh chụp tại Hội chợ Thương mại - OCOP vùng Tây Bắc - Hòa Bình.
 
Xác định rõ tầm quan trọng này, những năm gần đây, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và từng địa phương tăng cường công tác xúc tiến thương mại. Hoạt động xúc tiến thương mại ở thị trường trong nước được đẩy mạnh với việc hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, phát triển giao thương. Giai đoạn 2016-2020, tỉnh tổ chức được 33 hội chợ triển lãm với sự tham gia của gần 4.000 DN. Tổ chức 20 phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn, vùng sâu, xa. Vận động, mời các tổ chức, cá nhân SX-KD trên địa bàn tỉnh tham gia hội nghị kết nối cung cầu, hội chợ triển lãm thương mại trong nước, giới thiệu và hỗ trợ hơn 200 DN, đơn vị tham gia tại các tỉnh, thành phố như: Hà Nam, Quảng Trị, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hưng Yên, Kiên Giang, Nghệ An, Quảng Ninh, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh... Tỉnh đã phê duyệt triển khai 59 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo ATTP, xây dựng 4 cửa hàng bán và giới thiệu nông sản an toàn. Triển khai xây dựng thành công 3 mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản, cung ứng vật tư nông nghiệp đối với sản phẩm mía Lạc Sơn, bưởi Tân Lạc, miến dong Đà Bắc.
 
Các sở, ngành, địa phương đẩy mạnh tìm hiểu thị trường đối với các sản phẩm hàng hóa chủ lực như: Hàng năm tổ chức lễ hội cam Cao Phong; tổ chức tuần lễ cam Cao Phong, cá Sông Đà tại Hà Nội; tham gia trưng bày các gian hàng tại hội chợ hàng nông sản vùng Tây Bắc. Tổ chức hội nghị xúc tiến thương mại và liên kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thủy sản; giới thiệu DN, HTX cung ứng sản phẩm với Trung tâm Xúc tiến thương mại TP Hà Nội; ký kết biên bản thỏa thuận hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa các cơ sở trên địa bàn tỉnh với các DN phân phối của TP Hà Nội. Đặc biệt, đã triển khai và dán trên 7 triệu tem điện tử truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm: Cam Cao Phong, cam Mường Động, bưởi đỏ Tân Lạc, chuỗi cá sông Đà, chuỗi thịt lợn. Hỗ trợ hơn 242 nghìn tem điện tử truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho liên nhóm hữu cơ Lương Sơn và HTX nông sản hữu cơ để dán trên các loại sản phẩm rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn. 
 
Bên cạnh đó, UBND tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm của tỉnh. Đã xây dựng chỉ dẫn địa lý "Cao Phong” cho sản phẩm cam quả của huyện Cao Phong và các nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể: Mía tím Hòa Bình, hạt dổi Lạc Sơn, quả lặc lày và rau hữu cơ của huyện Lương Sơn, bưởi đỏ Tân Lạc, cam Lạc Thủy, mật ong Hòa Bình, gà Lạc Sơn, Lạc Thủy, tôm - cá sông Đà, tỏi tía Mai Châu, gạo J02 Đà Bắc... Hướng dẫn và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP cho 243 cơ sở. Hỗ trợ, chứng nhận VietGAP trong nuôi trồng thủy sản cho 10 cơ sở với sản lượng 1.802,3 tấn/năm; chứng nhận VietGAP cho 13 cơ sở chăn nuôi quy mô 664,8 tấn/năm; chứng nhận VietGAP và tiêu chuẩn hữu cơ cho 57 cơ sở trồng trọt quy mô 2.481,9 ha. Toàn tỉnh hiện có trên 70 sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 - 4 sao…
 
Các chứng nhận chất lượng đã giúp nông sản của tỉnh khẳng định được vị thế, tiêu thụ mạnh trong hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn ở Hà Nội và các tỉnh lân cận, như: Sản phẩm cam Cao Phong bán tại các siêu thị lớn, hàng không Vietnam Airline; bưởi đỏ Tân Lạc vào được hệ thống siêu thị BigC, T-Mart, Trung tâm thương mại V+; cá sông Đà vào hệ thống siêu thị BigC, Vinmart, Qmart, Co.opmart, Lotte; rau su su Tân Lạc, rau hữu cơ Lương Sơn vào hệ thống các siêu thị Fivimart, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch Biggreen....
 
Tuy nhiên, theo đánh giá của Sở Công Thương, công tác xúc tiến thương mại đã được tăng cường, song hiệu quả chưa cao. Các chương trình xúc tiến thương mại quy mô nhỏ, triển khai chưa được thường xuyên. Chưa có chiến lược xúc tiến thương mại cho từng ngành hàng, mặt hàng cụ thể… 
 
Trao đổi về vấn đề xúc tiến thương mại trong cuộc họp mới đây tại Sở Công Thương, đồng chí Vương Đắc Hùng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng: Các mặt hàng nông sản của tỉnh nên xác định Hà Nội là thị trường chủ đạo, bởi chúng ta giáp với Thủ đô, đây là thị trường lớn, người dân đông nên có nhu cầu rất cao. Thường trực Tỉnh ủy nên có cuộc làm việc với Thường trực Thành ủy Hà Nội để mở cửa thị trường Thủ đô, làm sao mở được các điểm bán hàng tại đây. Muốn vậy, vấn đề đặt ra là các cơ quan QLNN phải giúp các DN, HTX ra được cơ chế, chính sách. Việc hỗ trợ thuê các điểm bán hàng không phải từ NSNN mà từ nguồn xã hội hóa. Cùng với đó, công tác truyền thông phải đẩy mạnh, đổi mới cách thức trên đài quốc gia và truyền thông của Thủ đô. 
 
Cũng theo chia sẻ của lãnh đạo Sở NN&PTNT, qua khảo sát của ngành nông nghiệp cho thấy, tỉnh có nhiều sản phẩm đã được xuất khẩu như nhãn, ớt, chuối, gừng… nhưng hàng hóa phục vụ cho DN xuất khẩu còn ít, trong khi chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của DN khi diện tích trồng cây hàng năm lớn và đã có quy hoạch, có bản đồ thổ nhưỡng. Do vậy, Sở Công Thương nên phối hợp Sở NN&PTNT tổ chức hội nghị, mời các DN trong, ngoài tỉnh đến nắm bắt nhu cầu các sản phẩm xuất khẩu. Các cơ quan Nhà nước phải làm cầu nối giúp các DN. Đồng thời, các địa phương đã có quy hoạch thì gắn với sản xuất theo chuỗi để DN đưa vào thị trường.

Cam lòng vàng có chất lượng tốt giá bán trung bình trên 15.000 đồng/kg. Ảnh chụp tại vườn cam của gia đình ông Nguyễn Quốc Toàn (bên trái), khu 7, thị trấn Cao Phong (Cao Phong).


Trước sự cạnh tranh của nhiều loại cam trên thị trường, cam Cao Phong vẫn luôn được người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn, nhất là người dân Hà Nội. Hiện tại, cam lòng vàng giá bán tại vườn từ 15.000 - 20.000 đồng/kg, cam Canh từ 22.000 - 25.000 đồng/kg. So với cam của các địa phương, cam Cao Phong có mức giá tốt (cam Tuyên Quang khoảng 5.000 đồng/kg, cam Hà Giang từ 6.000 - 7.000 đồng/kg…).

Chị Nguyễn Thị Loan, chủ cửa hàng cam sạch Thanh Loan, thị trấn Cao Phong (tỉnh Hòa Bình) chia sẻ: Cửa hàng của gia đình tôi thường xuyên tham gia các hội chợ giới thiệu sản phẩm tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định... Thực tế tại hội chợ cho thấy, giá cam của địa phương khác từ 10.000 - 15.000 đồng/kg, còn cam Cao Phong giá 25.000 - 30.000 đồng/kg vẫn được khách hàng ưa chuộng. Đầu vụ, cửa hàng tôi cắt cam đẹp tại vườn giá từ 20.000 - 30.000 đồng/kg, bán lẻ 35.000 - 40.000 đồng/kg đối với cam mát, cam Mỹ bán tới 50.000 đồng/kg. Hiện đang chính vụ, cam Canh bán lẻ tại cửa hàng 45.000 đồng/kg, cam lòng vàng 25.000 đồng/kg. Lượng khách mua ổn định, có thêm một số khách mua buôn mới. Sắp đến Tết Nguyên đán, dự kiến lượng mua sẽ tăng, khách hàng khắp các địa phương, thậm chí ở miền Nam đã đặt cam Tết. Đơn hàng Tết của cửa hàng đã lên tới vài chục tấn.

Từ lâu, cam là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân huyện Cao Phong. Năm 2014, cam Cao Phong được cấp chứng nhận Chỉ dẫn địa lý. Năm 2016, Viện Sở hữu trí tuệ quốc tế cấp chứng thư "Tốp 10 thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng lần thứ 5”. Chất lượng, uy tín sản phẩm cam Cao Phong tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp của tỉnh.

Toàn huyện Cao Phong có trên 2.800 ha cây ăn quả có múi, diện tích thời kỳ kinh doanh trên 2.000 ha, diện tích thời kỳ kiến thiết cơ bản trên 798 ha. Niên vụ 2020 - 2021, sản lượng dự kiến trên 30.000 tấn. Nhằm nâng cao chất lượng cam quả, từ năm 2015 đến nay, huyện có nhiều chính sách hỗ trợ để người dân duy trì, mở rộng diện tích trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ. Đến nay, huyện có trên 1.000 ha với 807 hộ trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP; 1.147 ha được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Ông Nguyễn Quốc Toàn, khu 7, thị trấn Cao Phong cho biết: Gia đình tôi trồng hơn 2 ha cam các loại, trong đó 1,5 ha đang thu hoạch, với các giống cam Canh, cam lòng vàng, quýt Hà Giang. Quýt Hà Giang năm nay dễ bán và được giá, trên 10.000 đồng/kg; cam Canh từ 22.000 - 25.000 đồng/kg. Với 7.000 m2 cam lòng vàng, tư thương hỏi mua cắt cả vườn, giá 15.000 đồng/kg nhưng gia đình chưa bán. Năm nay, dự kiến tổng sản lượng cam các loại của gia đình đạt trên 40 tấn, doanh thu khoảng 700 triệu đồng. Trừ kinh phí sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP khoảng 200 triệu đồng cho lãi 500 triệu đồng. 

Đến thời điểm này, toàn huyện Cao Phong đã tiêu thụ được khoảng 60 - 70% sản lượng cam, khoảng 18 nghìn tấn. Chị Trần Minh Trang, quận Cầu Giấy (Hà Nội) chia sẻ: Tại nhiều địa phương như Hưng Yên, Bắc Giang, Sơn La hay các huyện Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy cũng trồng các giống cam Cao Phong, nhưng vị không như cam trồng tại Cao Phong. Gia đình tôi tin tưởng chất lượng cam Cao Phong, khi bổ, cam có mùi thơm của tinh dầu, màu vàng đậm, vị ngọt thanh. Bởi vậy, tại Hà Nội có nhiều loại cam bán dưới 10.000 đồng/kg, nhưng tôi vẫn chọn mua cam Cao Phong với giá 35.000 đồng/kg.

Đồng chí Bùi Văn Dán, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết: Một số hộ trồng cam ở vùng lân cận quy mô nhỏ lẻ, sản lượng ít, mang ra chợ cóc, thậm chí ngồi tràn lan dọc quốc lộ 6 trên địa phận huyện để bán cam. Vì vậy, giá thấp hơn so với mức trung bình vùng trồng tập trung của huyện. Huyện đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức giữ gìn thương hiệu cam Cao Phong, không mang cam từ các địa phương khác về đội lốt cam Cao Phong bán với giá rẻ, làm ảnh hưởng đến uy tín của cam Cao Phong. Cam vẫn là cây trồng chủ lực góp phần nâng cao đời sống cho người dân. Giá trị từ trồng cam đạt trên 300 triệu đồng/ha/năm.

Đồng chí Nguyễn Hồng Yến, Chi cục trưởng Chi cục TT&BVTV cho biết: Diện tích cam Cao Phong chín sớm đã thu hoạch xong, hiện đang thu hoạch cam chính vụ, chủ yếu là cam Xã Đoài và một phần cam lòng vàng. So với các năm trước, giá cam năm nay thấp hơn chút. Tuy nhiên, những vườn cam đẹp, chất lượng tốt giá bán vẫn đạt trên 15.000 đồng/kg. Tiêu thụ chủ yếu do tư thương thu mua, qua hệ thống siêu thị, cửa hàng nông sản sạch và bán trực tiếp trên zalo, facebook... Để giữ gìn, phát triển thương hiệu cam Cao Phong, ngành NN&PTNT tỉnh hỗ trợ người trồng cam kỹ thuật sản xuất, trong đó quan tâm thực hiện các giải pháp phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ, rệp sáp hại rễ, đẩy mạnh sử dụng phân bón hữu cơ, phân bón sinh học, chế phẩm sinh học; sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Cùng với đó, ngành hỗ trợ người trồng cam Cao Phong kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm, tham gia hoạt động xúc tiến thương mại tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh.

Nguồn: http://www.baohoabinh.com.vn/

.

Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản


Kế hoạch thực hiện, Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-HLHPNVN về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Mật ong Hòa Bình dùng cho sản phẩm mật ong của tỉnh Hòa Bình


Ban hành Quyết định và Bộ quy chế về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Cá Sông Đà - Hòa Bình và Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Tôm Sông Đà - Hòa Bình


Quyết định phê duyệt Đề án "Xây dựng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị đảm bảo an toàn thực phẩm" giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình


Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản



hoctaphcm333

54545445

 8777465244

.

Thống kê truy cập

3418100
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả:
1935
2256
1935
1649751
26560
145056
3418100

Your IP: 3.210.184.142
2021-05-09 22:23
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction